Niềm Vui Dâng Tặng Cho Đời,
Nỗi Buồn Xin Gởi Mây Trời Mang Đi

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

Họp Mặt Anh Chị Em Đoàn Văn Tuyên Bình Long năm 2017

Thứ Bẩy ngày 07 tháng 10 năm 2017
Các Anh Chị của Đoàn Văn Tuyên Bình Long đã Họp Mặt năm 2017
Tại Bình Long . Về dự có các Anh Chị từ Sài Gòn - Bình Dương.....Và Anh Nghinh từ Hoa kỳ .

















Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

THỊ TRẤN BIẾN MẤT





THỊ TRẤN BIẾN MẤT

Thuở bé tôi vẫn nhìn về phía núi Vọng Phu để lòng bồi hồi thương cho hai bóng người hóa đá. Bà tôi cũng kể rằng vùng núi ấy có kẻ ngậm ngải tìm trầm, đi lạc trong rừng mấy mươi năm, khi tìm về được quê nhà thì đã hóa thành con vượn không còn nói được tiếng người. Thỉnh thoảng, ở chợ Ninh Hòa tôi rất sợ khi nhìn thấy có một vài người da đen thui, tóc quăn tít, đàn ông mặc khố, đàn bà địu con trên lưng. Chắc họ từ núi Vọng Phu xuống. Có người nói họ là người Thượng ở Buôn Sim.

Buôn Sim chỉ cách thị trấn Ninh Hòa khoảng 14 km theo hướng quốc lộ 21. Người dân quê tôi không gần gũi với vùng đất này bởi khí hậu nơi ấy vô cùng khắc nghiệt. Nằm trong lòng chảo của nhiều rặng núi, buôn Sim là một vùng khô cằn, sỏi đá, đêm quá lạnh, ngày quá nóng.
Sau hiệp định Genève vài năm, Buôn Sim bỗng biến thành một quân trường khổng lồ gồm ba trung tâm huấn luyện Pháo Binh, Biệt Động, Lam Sơn.
Và cái tên Dục Mỹ ra đời.
Khác với thời chống Pháp mà người lính là những “áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá”, các quân nhân miền Nam được huấn luyện và trang bị rất quy củ với các doanh trại khang trang, bề thế.
.
Với số lượng quân nhân trong ba trung tâm huấn luyện kèm theo gia đình của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, thị trấn Dục Mỹ mọc lên giữa bốn bề núi non, tuy nhỏ bé nhưng vô cùng nhộn nhịp.
Cũng giống như những thị trấn mới toanh trong phim cowboy miền viễn tây, Dục Mỹ là nơi quy tụ của quá nhiều người tứ xứ về đây mang theo các giọng nói vùng miền.
Người có máu làm ăn cũng vội vàng tìm về đất hứa.
Chợ Dục Mỹ cung cấp đủ để nấu được các món ăn đặc trưng kiểu Sài Gòn, Bắc, Huế…
“Vợ Lính” thong dong chẳng cần làm việc, chỉ lo cơm nước và nuôi con.
Những chuyến xe lam như con thoi nối liền Ninh Hòa – Dục Mỹ. Người dân Ninh Hòa bây giờ hướng về thị trấn mới như một thị trường hấp dẫn, nơi họ có thể làm giàu nhờ nghề cung cấp thực phẩm.
Nhà thờ và nhà chùa đã được xây. Các xe schoolbus được chế biến từ xe GMC của ba quân trường chở con quân nhân xuống Ninh Hòa học ở các trường trung học. Những cô cậu học trò đã từng ngồi trên những chiếc GMC cải tiến này, nay đã trên dưới sáu mươi và tôi tin rằng dầu ở chân trời góc bể nào họ không bao giờ quên những chuyến xe chở học sinh kỳ lạ nhưng đầy ắp niềm vui một thuở.
Chủ nhật, con phố Dục Mỹ “Đi dăm phút trở về chốn cũ” có bóng dáng của những “thiếu úy”, “trung úy” trẻ trung, quân phục thẳng nếp, thong thả dạo gót rồi ghé vào một tiệm sách có cô bán hàng xinh xinh.
Bên con suối Dục Mỹ vài quán cà phê ra đời có tiếng nhạc hòa trong tiếng ầm ào thác đổ.
Người lính miền Nam thuở ấy vẫn còn mang vẻ thư sinh lãng mạn. Ra trận, thay vì nhìn tới trước “nhắm thẳng quân thù mà bắn” (*), họ quay nhìn lại phía sau “Người đi khu chiến, thương người hậu phương”(**)
Biến cố 1975 như một cơn động đất dữ dội làm sụp đổ hoàn toàn trung tâm huấn luyện. Toàn bộ cư dân gồm quân nhân từ ba trung tâm huấn luyện cùng gia đình họ đều chạy khỏi Dục Mỹ, tan tác hãi hùng như mảnh vỡ của một trái phá.
Thị trấn bỗng chốc như bị thần đèn mang đi đâu mất.
Dục Mỹ trở lại là Buôn Sim hoang vắng thuở nào.
Cũng còn một số người ở lại vì họ không biết đi đâu về đâu và họ trở thành dân của một vùng kinh tế mới mang tên Ninh Sim.
Và người dân Ninh Sim đã phải làm gì để tồn tại khi 100% mang trên đầu bản án lý lịch xấu, con cái chắc chắn không được vào đại học, người thân không biết còn sống hay đã chết trong các trại cải tạo?
Nếu người Ninh Hòa khi ấy kiếm sống bằng cách bám vào bến xe đò và ga xe lửa với các chuyến đi buôn lậu gạo, đường, thuốc lá, đạp xe ba gác, làm phu khuân vác… thì người dân Ninh Sim Dục Mỹ kiếm sống bằng cách bám vào núi rừng. Họ lên núi đào khoai mài, cắt tranh, lấy đót. Họ “ngậm ngải tìm trầm” và có người đã mất xác trong rừng sâu núi thẳm. Họ chặt củi, hái trái rừng, trồng khoai mì, trồng mía. Họ tìm cách sống trong im lặng, chịu đựng mặc cho loa phường ngày ngày vang lên giọng tự hào chiến thắng giặc Mỹ để toàn dân xây dựng “thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Và tượng đá bồng con trên non cao kia chắc đã nhiều lần rơi lệ thương cho cảnh con người bức hại con người.
Năm ngoái, anh Phạm Văn Nhàn trở về Ninh Hòa, rủ vợ chồng tôi đi thăm lại Dục Mỹ, nơi anh có thời gian rất lâu là sĩ quan của quân trường Lam Sơn.
Xe ghé lại núi Đeo, nơi vẫn còn tháp huấn luyện của quân trường Biệt Động nằm bên Khu Mưu Sinh.
Khu Mưu Sinh được dựng bên một dòng suối đã biến mất nhưng ngôi tháp vẫn còn.
Anh Nhàn muốn chụp một tấm hình có người lính già trở về thăm ngọn đồi kỷ niệm.
Qua khỏi Dục Mỹ chúng tôi nhìn thấy những đồng mía bạt ngàn, những đàn bò gầy ốm đang gặm cỏ trên những cánh đồng nắng cháy.
Đến khoảng cây số 17 anh Nhàn cho dừng xe.
“Hình như trung tâm Lam Sơn hồi trước ở đây mà sao tui không còn nhìn thấy gì hết?”
Rồi anh ghé vào hỏi thăm một cô hàng nước:
“Cô ơi, trung tâm Lam Sơn ở đâu hả cô?”
Cô hàng nước mỉm cười, chỉ tay xuống đất:
“Dạ, ở ngay đây này.”
Anh Nhàn nhìn quanh. Chẳng còn gì là dấu vết của một địa danh lừng lẫy! Anh bước thêm vài bước, chẳng thấy phố, thấy người chỉ thấy toàn mía là mía.
Hơn mười năm tồn tại, Dục Mỹ của ba quân trường bây giờ chỉ là cát bụi thời gian.
Huyền Chiêu
tháng 3-2015
(*) lời của một người lính miền bắc.
(**) Chiều Mưa Biên Giới – Nguyễn văn Đông

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

NÉN TÂM NHANG CHO NẠN ĐÓI NĂM ẤT DẬU


THP NÉN TÂM NHANG TƯỞNG NIM
2 TRIỆU ĐỒNG BÀO CHẾT ĐÓI THÁNG 3 NĂM ẤT DẬU




 












             Hồi tưởng lại những ngày thê thảm ấy. Năm nay tháng BA lại đến, những nhân chứng sống, mỗi năm một vắng dần.Vì thế, chuyện về năm Ât Dậu cũng thưa dần.
Sau đây tôi  ghi lại lời ông anh vợ tôi, năm nay ông tròn 80 tuổi. Kể về năm đó, ông nói: “Gia đình  chúng tôi năm 1945 ở thành phốNam Định. Mẹ tôi bán hàng cơm nhỏ trên hè phố nên cả nhà cũng không đến nỗi đói. 
Tôi mới 12 tuổi, hàng ngày cầm chiếc đòn gánh đứng gác bên quán hàng cơm, đề phòng những người đói đột xuất xông vào cướp cơm. Một lần, chúng tôi lang thang tò mò theo hai anh cảnh sát đi vào ngõ sâu. Trong ngõ có một ngôi nhà, liền sau nhà là khu vườn hoang. Trong nhà có hai người đàn ông xanh xao phù thũng, trông rất sợ. Cảnh Sát khám xét và tịch thu nhiều cái nồi đất. Trong nồi có thịt kho. Khi cảnh sát dẫn hai người ra sau vườn, tôi thấy có khoảng 9, 10 cái đầu trẻ con nằm rải rác. Cảnh Sát bắt hai ông chủ nhà mang theo tang vật áp giải về đồn. Đến đây, tôi không biết sự việc tiếp diễn ra sao, vì họ không cho chúng tôi vào. Chúng tôi lại dẫn nhau đi xem cửa hàng bán thịt người. Hồi ấy trong thành phố có chuyện gì to nhỏ thì cái mạng lưới trẻ con chúng tôi đều biết trước và lan truyền cho nhau rồi kéo đến xem.

Nạn đói tháng 3/năm Ât Dậu (1945) ở thành phốNam Định thật khủng khiếp. Người từ Thái bình, từ các vùng nông thôn đang đói kéo nhau về thành phố tìm cái ăn. Cứ sáng dậy nhìn ra vườn hoa là thấy rải rác những con người da bọc xương, quần áo rách tả tơi, hoặc không quần áo, chỉ quấn bao tải rách che thân. Có người đã chết lạnh cứng từ ban đêm, có người còn thoi thóp, có ngưòi còn tri giác nhưng không còn sức để nói, chỉ thều thào! Nhưng tất cả đều bị lẳng lên những cáí xe ba gác một người kéo, ba bốn người đẩy; họ  đến thu gom.  Họ là những kẻ làm vệ sinh thành phố. (Ngày xưa, họ chỉ quét lá dẵn cành, làm sạch đẹp thành phố; có lẽ trước đây chẳng ai nghĩ là có ngày phải dọn “cái rác người”. Cái rác họ phải dọn lại là “đồng loại” “đồng bào” của họ! Trong khi họ đang làm công việc “thu dọn xác người chết đói”thì chính họ và vợ con họ, bà con chú bác họ ở quê cũng đang đói hoặc quằn quại sắp chết đói).
Làng quê tôi cách thành phố chừng 10 cây số. Trừ một số ít nhà giàu, hào lý, còn cả làng đều đói lắm. Lúc ông bố tôi mất vì bệnh đậu lào, dân làng đói quá, tìm không ra ngươi khênh quan tài, các hào lý trong làng phải đến khênh. Cánh đồng lúa bát ngát sau xóm tôi ở, lúa đang  lên xanh tốt, Phát xít Nhật buộc nhổ hết để trông đay. Trong khi đó chính sách “cưỡng bức thu thóc tạ”, vét cạn cả nguồn thóc còn lại trong các gia đình phú nông,địa chủ.”
Trong khi ông già đang kể chuyện, các cháu tuổi còn thanh niên xúm quanh chăm chú nghe. Nhiều cháu sửng sốt vì mới được nghe lần đầu. Các cháu khống sao hình dung nổi cái vườn hoa Cửa Đông mà các cháu từng dẫn nhau ra đó ngồi ghế đá dưới bóng cây gạo xum xuê, đã từng diễn ra cảnh dân ta chết đói thê thảm như vậy. Lịch sử dân tộc Việt nam qua 4.000 năm chưa bao giờ diễn ra thảm cảnh đó: trong một thời gian ngắn, (gần 2 tháng)  mà phải tức tưởi chết đói  số đòng bào là HAI TRIỆU người, (10% dân số Việt nam thời đó). Lại nữa, con người từ giã cõi đời có nhiều kiểu chết, đứng về mặt sinh học mà ngẫm, thì CHẾT ĐÓI là cách chết đau đớn thê thảm nhất; bởi vì trước khi “được” tắt thở, thân xác sinh học và tâm thức con người bị ma đói hành hạ từng giây, từng phút trong một thời gian dài mà nạn nhân không thể biết trước là bao lâu ! 
Vì vậy, mấy chữ HAI TRIỆU ĐỒNG BÀO CHẾT ĐÓI NĂM ẤT DẬU (1945)! Thật là khủng khiếp về số lượng khổng lồ, và tàn khốc biết bao về thảm hoạ!

Bức tranh về “THẢM HOẠ ĐÓI” dài và rộng khôn cùng. Dài và rộng như nỗi đau khôn xiết của 2 triệu đồng bào vì đói mà quá cố! Hàng năm, chúng ta vinh danh những cá nhân có công, những tập thể anh hùng…, việc ấy hoàn toàn đúng. 
Tuy nhiên, cũng cần thiết hình thức nào đó để tưởng niệm về : 
THẢM HOẠ DÂN TỘC NĂM ẤT DẬU. 
Để hậu thế quên đi HAI TRIỆU ĐỒNG BÀO CHẾT ĐÓI LÀ CHÚNG TA CÓ LỖI. Tôi nhớ vào năm tròn 60 năm kỷ niệm thảm hoạ đói Ât Dậu (1945), có một phóng viên hỏi một vị lãnh đạo sao không tổ chức lễ tưởng niệm năm ấy. Vị lãnh đạo cười xuê xòa và nói :  “ Năm ấy đói vì mất mùa “.
Cũng không trách vị lãnh đạo nọ.Vì lẽ, ông sinh ra và lớn lên ở Nam bộ.Ông tham gia C.M. lúc còn trẻ, lúc tập kết ra Bắc thì đi học trường Bổ túc Công Nông, không có cơ hội tiếp cận thông tin đầy đủ về nạn đói 1945. Cũng năm đó (2005), tôi chỉ bắt gặp một bài báo của giáo sư Vũ Khiêu viết về nạn đói 1945, nhất là ở Thái bình, quê tác giả.

Lịch sử Dân tộc ta, lẽ nào  bỏ quên năm tháng giỗ một phần mười dân tộc bị chết đói thê thảm 1945. Cần có tượng đài, sách báo, giáo trình, hiện vật cho con cháu đời sau nhớ đến. Chúng ta rất mừng, vừa qua có một quyển sách nói về nạn đói năm 1945 được trao giải thưởng. Nhưng liền theo đó cần có sự giới thiệu sách trên đài báo và các hình thức khác nữa nhằm tưởng nhớ  lan truyền xuyên hậu thế. Nếu không, quyển sách, sau khi được thưởng sẽ chìm vào quên lãng cùng nỗi đau Dân tộc.
                          Những ngày tháng ba Nhâm thìn (2012) giáp hạt nhưng no đủ.                                                                                                              PHẠM  MẠN                                                                                                                                                             

                                                                  
NHỚ VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 Ở QUÊ TÔI
Tình cờ đọc lại bài báo của giáo sư Vũ Khiêu viết về nạn đói năm 1945,
tôi rất xúc động. Bao nhiêu hình ảnh về nạn đói năm đó tuy đã qua 57 năm:
ở Hà tĩnh quê tôi, lúc tôi mới là cậu học sinh 11 tuổi (tôi sinh 1934) bỗng tái hiện rõ mồn một: những xác người, sáng nào cũng xuất hiện trong điếm canh trứoc trường tôi học. Những buổi phát chẩn thứ “gạo Sài gòn” trắng bóng lạ lùng và có mùi khét và mốc nồng nàn. Tôi nhìn mấy người được phát chẩn, anh Cu V…, anh Cặc Cháu B…với thân hình teo tóp da bọc xương, hai con ngươi mắt tròn thao láo, mồm hở những cái răng to, mặc mỗi chiếc quần đùi nhem nhuốc, thân hình để lộ xương vai, xương sườn bọc lớp da xanh xám. Tôi không sao quên đươc dáng đi chếnh choáng không vững của các anh ấy (hơn tôi 4 , 5 tuổi).
Sáu mươi bảy năm đã qua, ký ức tôi còn rõ mồn một: trên đường xóm,   một em bé trạc 3 tuổi, xanh xao còm cõi, mặc cái áo rách, không có quần, vừa đi vừa chảy phân nước tháo tỏng xuống hai đùi, luôn miệng kêu: “cha ơi!”. Mấy người lớn đi qua hỏi: “cha cháu đâu? Cha cháu tên là gì?” Em bé vừa khóc, vừa đáp: “cha cháu tên là cha!”nghĩa là em chưa đến tuổi có thể biết tên cha mình. Không biết về sau có ai cưu mang em không!?
Còn Ông Chú tôi có nuôi làm phúc một cậu bé 8 tuổi: không cha, không mẹ. Chú tôi cũng chăm sóc chu đáo, cho đi học trường tiểu học rồi học bổ túc kết hợp làm việc nhà, chăn trâu cắt cỏ cùng với Chú Thím tôi trồng cấy hơn mẫu ruộng. Tuổi thơ của cậu bé thoát khỏi đói khát lang thang khá yên bình trong cảnh gia đình trung nông của chú thím tôi. Trớ trêu thay, ai ngờ được, hơn 10 năm sau, anh ta trưởng thành, sức vóc tráng niên có chữ nghĩa trong đầu đột nhiên trở thành một cốt cán của Đội Cải Cách Ruộng Đất ( C.C.R.Đ ) .Ông Chú tôi, Bà Thím tôi, người mà suốt hơn 10 năm, anh ta luôn gọi bằng hai từ thiêng liêng nhất, suy tôn cao cả nhất là CHA và MẸ lại biến thành KẺ THÙ để anh ta đấu tố sỉ vả nhục hình trước bàng dân thiên hạ; chỉ vì gia đình chú tôi bị quy là “ Phú Nông ” ! Đúng là: “ làm phúc thì xúc lấy tội” ! ; “ gia ân thì chuốc oán ” !
Không phải tôi đã đi xa đề bài viết này, mà tôi muốn nói đến mối liên quan  hệ luỵ trong một cuộc đời đứa con nuôi của Chú Thím tôi. Bởi chưng,  nếu bọn Phát xít NHẬT tàn ác không gây ra nạn đói khủng khiếp 1945, chắc chắn không xuất hiện kẻ thù của Chú tôi bằng xương bằng thịt tàn hại cơ nghiệp đến thế!
Thảm cảnh đói khát luôn đồng hành với bệnh tật là đương nhiên. Nhưng chết đói lại đồng hành với chết no mới là nghịch lý. Số là sau nhiều ngày đói cơ thể  con người suy kiệt: dạ dày teo lại, dịch vị tiêu hoá khô  kiệt…Vì thế nhiều người, mùa chín có gạo mới, mừng rỡ nấu nồi cơm to, ăn thật no cho bõ những ngày phải nhịn đói. Thế là sau khi ăn xong nằm thở bởi cái dạ dày sau thời gian dài không làm việc bị co lại, cứng ngắc với khối “dị vật gạo luộc”! Nhiều người đã chết vì chút sức tàn còn lại không vượt qua được cái chết. Một số người thấy thế, ban đầu ăn ít và ăn cháo, luyện tập dần dà để dạ dày thích nghi dần với chức năng vốn có của nó.
Như vậy, mấy ngày sau chức năng tiêu hoá sẽ hồi phục. Dư luân nhân dân hồi ấy cho biết, số người chết no cũng nhiều, thật là điều không đáng có !

Chuyện về nạn đói năm Ất Dậu kể mãi không bao giờ cạn. Nhưng theo thời gian, càng lâu hình ảnh, bóng dáng mờ dần trong ký ức mọi người.
Mấy năm qua không ai nhắc gì đến trận đói Ất Dậu nên tôi cũng quên theo. Vừa rồi, ông anh vợ tôi kể lại mấy cảnh trên, đồng thời trên TV.có thông tin về việc công bố giải thưởng sách. Trong đó có một tác phẩm nói về trận đói năm Ất Dậu tuy chưa biết nội dung sách nói gì nhưng tôi cũng rất mừng chờ đón. 
Trong những ngày giáp hạt tháng BA này, tuy giáp hạt nhưng vẫn no nê, vẫn xuất khẩu nhiều gạo ra thế giới. Hàng năm VÀO THÁNG NÀY nếu chúng ta cùng nhau thắp nén hương tưởng niệm  HAI TRIỆU ĐỒNG BÀO XẤU SỐ thì ý nghĩa biết bao!

Để cho con cháu đời sau nhiều người không biết đến nạn đói năm Ất Dậu, cũng là một NỖI BUỒN DÂN TỘC vì để hậu thế quên đi một ĐẠI HOẠ CỦA DÂN TỘC !!!

              *********************************